Thứ Bảy, 14 tháng 4, 2012

Trạng thái của thế giới - George Friedman 6


Hoa Kỳ tại Hàn Quốc: Một Chiến lược Quán tính

Tác giả: George Friedman

Ngày 19 tháng 3 năm 2012

|~~|~|~|~~|



Sau khi Tổng thống Mỹ Barack Obama đến thăm Khu phi quân sự Hàn Quốc vào ngày 25 tháng 3 trong chuyến đi của ông đến Nam Triều Tiên cho Hội nghị Thượng Đỉnh An ninh Hạt Nhân, tổng thống đưa phát biểu cảnh báo Bắc Triều Tiên nhằm chống lại các hành động tiếp tục khiêu khích. Ông cũng ca ngợi sức mạnh của mối quan hệ Mỹ-Hàn Quốc và khen thưởng 28.500 quân Mỹ đang đóng ở đó. Chuyến thăm của Obama chính nó không mấy quan trọng, nhưng nó là một cơ hội để đặt câu hỏi là Washington có những chiến lược gì tại Hàn Quốc và các nước xung quanh Bắc Triều Tiên (Trung Quốc, Nga, Hàn Quốc và Nhật Bản) nhận xét về khu vực như thế nào. Như mọi khi, để thông suốt bất kỳ chiến lược hiện tại nào cũng đòi hỏi việc xem xét về lịch sử của chiến lược đó.

Chiến tranh Triều Tiên và Tiền-Chiến lược Mỹ


Hàn Quốc đã trở thành một phần quan trọng của chiến lược ngăn chặn ở thời đại chiến tranh lạnh của Mỹ gần như rất tình cờ. Hoa Thịnh Đốn, đã triển khai lực lượng ở Trung Quốc trong Thế chiến II và do đó nhận thức được các vấn đề địa lý và nhân khẩu học khi hoạt động trên lục địa châu Á, hình dung ra một chiến lược hàng hải dựa trên các chuỗi đảo chạy từ
Aleutians cho tới Java. Người Mỹ sẽ sử dụng các hòn đảo và Hạm đội 7 để cầm chân cả Liên Xô và Trung Quốc trên đất liền. Về khái niệm thì Hàn Quốc nằm bên ngoài khuôn khổ này. Bán đảo này không được Hoa Kỳ coi là trung tâm chiến lược của mình ngay cả sau khi những người cộng sản đã chiến thắng trong cuộc nội chiến Trung Quốc. Sau chiến tranh thế giới thứ II, bán đảo Triều Tiên, đã bị chiếm đóng bởi Nhật Bản kể từ đầu những năm 1900, được chia thành hai khu vực. Miền Bắc dưới sự kiểm soát của cộng sản,miền Nam dưới sự kiểm soát của một chính quyền thân Mỹ. Quân đội Liên Xô rút khỏi miền Bắc năm 1948 và quân đội Mỹ rút ra khỏi miền Nam năm sau, mặc dù có một số người kêu gọi giữ họ tại vị để ngăn cản sự xâm lăng của cộng sản. Thực tế chính sách của Mỹ đối với một cuộc xâm lược miền Nam bởi miền Bắc từ lâu vẫn còn được bàn cãi, nhưng một sự can thiệp của Mỹ trên bán đảo Triều Tiên rõ ràng vi phạm nguyên tắc cốt lõi của chiến lược của Hoa Thịnh Đốn để tránh các hoạt động nơi đại lục và duy trì một chiến lược phong tỏa hải quân.

Chiến lược Mỹ đã thay đổi trong năm 1950, khi Bắc Triều Tiên xâm lăng miền Nam, châm ngòi cho cuộc chiến tranh Triều Tiên. Động cơ của Bình Nhưỡng vẫn còn chưa rõ ràng, cũng như vai trò của Mạc Tư Khoa và Bắc Kinh trong quyết định. Rõ ràng, Bình Nhưỡng muốn thống nhất bán đảo dưới sự kiểm soát của cộng sản, và rõ ràng, họ đã không thực hiện cuộc xâm lược đi ngược lại mong muốn Trung Quốc và Nga, nhưng nó thể hiện tất cả các ước tính tham vụ của chiến dịch đều trong phạm vi khả năng của quân đội Bắc Hàn. Rằng quân đội Bắc Triều Tiên phải đối mặt chỉ riêng với lực lượng Nam Hàn, họ sẽ đúng như thế. Họ rõ ràng là tính nhầm ý định can thiệp của Mỹ, mặc dù điều đó là không rõ ràng mà ngay cả những người Mỹ đều hiểu rõ ý định của họ trước khi can thiệp. Tuy nhiên, vào khi Bắc Hàn di chuyển về phía nam, Tổng thống Harry Truman đã quyết định can thiệp. Đối với ông ta lập luận dành cho Hàn Quốc còn ít hơn so với việc thành công của quân đội cộng sản sẽ có tác động vào các đối tác liên minh ở những nơi khác. Chiến lược toàn cầu của Mỹ phụ thuộc vào khả năng của Hoa Thịnh Đốn để thuyết phục các đối tác của mình rằng họ sẽ đến viện trợ nếu bị xâm chiếm. Hãy gác chiến lược sang một bên, việc không can thiệp có thể tạo ra một cuộc khủng hoảng về tự tin, hoặc như vậy thì đó cũng là mối quan tâm. Vì vậy, Hoa Kỳ đã can thiệp.


Sau những khó khăn nghiêm trọng, Hoa Kỳ đã chỉnh đốn để đẩy lui các lực lượng Bắc Hàn trở lại miền Bắc và đuổi đến gần sông Áp Lục, ranh chia giữa Triều Tiên và Trung Quốc. Điều này buộc Trung Quốc phải có một quyết định chiến lược. Người Trung Quốc chưa rõ ràng về ý định của người Mỹ, nhưng không dám đánh giá thấp sức mạnh của người Mỹ. Bắc Triều Tiên được xem như một bộ đệm giữa các đồng minh của Mỹ và miền đông bắc Trung Quốc (và là một bộ đệm tương tự như thế đối với Liên Xô để bảo vệ lãnh thổ hàng hải). Người Trung Quốc can thiệp vào chiến tranh, đẩy Mỹ trở lại từ sông Áp Lục và hao tổn về thương vong rất lớn trong quá trình này. Mỹ tái hợp lại, đẩy lùi và đã đạt được thế dồn quân ở khoảng dọc theo biên giới cũ và là Khu phi quân sự hiện nay.Thỏa thuận ngừng bắn đã được đàm phán và Hoa Kỳ đã để lại các lực lượng ở Hàn Quốc, là những người thừa kế mà Tổng thống Obama đã đề cập đến trong chuyến thăm.


Bắc Hàn: Sự nhu nhược, điên rồ đáng sợ


Đại bí ẩn của thế giới sau Chiến tranh Lạnh là sự sống còn của chế độ Bắc Hàn. Với miền Nam năng động, một nước Nga phi Cộng sản và một Trung Quốc có cam kết quan hệ kinh tế với phương Tây, cho thấy rằng chế độ Bắc Hàn đã có thể tự tìm thấy khó khăn để tồn tại. Điều này được pha trộn bởi các vấn đề kinh tế nghiêm trọng (được xô đẩy bởi sự rút lui về hỗ trợ kinh tế từ Trung Quốc và Nga) và nạn đói trong những năm 1990. Tuy nhiên, nó đã tồn tại,và việc sống sót đó được bắt nguồn từ các địa hình chính trị của Chiến tranh Lạnh.


Theo quan điểm của Trung Quốc, Bắc Hàn trong những năm 1990 có chức năng phục vụ tương tự như nó đã làm trong những năm 1950: Đó là một vùng đệm giữa Hàn Quốc với nền kinh tế mạnh mẽ hiện nay (và quân đội Hoa Kỳ) và Mãn Châu. Người Nga, như trong Chiến tranh TriềuTiên, quan tâm đến, nhưng không bị ám ảnh bởi tình hình Triều Tiên, Nga đã chuyển hầu hết sự chú ý của họ về phía tây. Hoa Kỳ lo ngại rằng một sự sụp đổ ở Bắc Hàn sẽ gây ra căng thẳng với Trung Quốc và làm suy yếu sự ổn định của đồng minh của mình, Nam Hàn. Và Nam Hàn đã do dự để thực hiện bất cứ hành động nào có thể kích hoạt một phản ứng từ pháo binh của Bắc Triều Tiên vào trong phạm vi của Hán Thành, nơi mà một phần lớn dân số của Hàn Quốc, chính phủ, ngành công nghiệp và tài chính lợi ích đang cư trú. Ngoài ra, họ lo ngại rằng việc Bắc Hàn sụp đổ sẽ tạo ra một cuộc khủng hoảng kinh tế lớn ở miền Nam, khi xem những khó khăn hội nhập của người Đức và thừa nhận khoảng cách rộng lớn hơn về kinh tế và xã hội giữa hai miền Triều Tiên.


Trong một ý nghĩa thực tế, không ai bên ngoài Bắc Hàn đã từng quan tâm trong việc thay đổi các đường biên giới của bán đảo. Mọi tính toán đã tạo ra sự phân ranh ở ngay lúc ban đầu và duy trì nó trong và sau khi chiến tranh Triều Tiên vẫn còn nguyên vẹn. Tất cả mọi người hoặc có một lý do muốn duy trì một Bắc Hàn độc lập (ngay cả với một chế độ cộng sản) hoặc không mong muốn rủi ro thay đổi hiện trạng.


Câu hỏi khó khăn nhất để trả lời là không phải là Hoa Kỳ xem xét sự tiềm năng bất ổn của Bắc Hàn như thế nào mà là việc sẵn sàng để duy trì một mức độ quân đội đáng kể ở Nam Hàn. Lý do để can thiệp ở lúc ban đầu thì không rõ ràng. Sự hiện diện quân sự của Mỹ từ năm 1953 và 1991 được dự định để duy trì nguyên trạng trong Chiến tranh Lạnh. Việc sẵn sàng để ở lại vẫn là phức tạp còn hơn thế nữa.


Một phần của nó chỉ đơn thuần là làm với quán tính. Cũng như việc quân đội Hoa Kỳ vẫn còn ở Đức một thế hệ sau khi kết thúc của Chiến tranh Lạnh, thật dễ dàng hơn khi không xem xét lại chiến lược của Mỹ ở Hàn Quốc hơn là chịu đựng sự căng thẳng nội bộ duyệt xét lại nó. Rõ ràng, Mỹ không muốn căng thẳng giữa Nam Hàn và Bắc Hàn, hoặc có sự hiểu lầm cho Bắc Hàn rằng việc rút quân như là một lời mời để thử một động thái quân sự lên trên miền Nam, tuy nhiên không. Người Nhật nhìn thấy sự thống nhất Hàn Quốc là vấn đề lợi ích của họ, vì nó có thể tạo ra một sức mạnh kinh tế công nghiệp gần đó với hơn 70 triệu người và làm nhóm lên sự kình địch cũ. Và Bắc Hàn, có vẻ như, thực sự hoan nghênh sự hiện diện của Mỹ, tin rằng làm giới hạn sự phiêu lưu xuống Nam Hàn. Giữa quán tính và những gì chúng tôi sẽ gọi là một tiền-chiến lược, Hoa Kỳ vẫn còn ở lại.


Với sự mất mát các đối tác quen trong Chiến tranh Lạnh và sự năng động thay đổi của thế giới hậu Chiến tranh Lạnh, Bắc Hàn phát triển một chiến lược sống mà Stratfor xác định trong những năm 1990. Ý định của người Hàn Quốc được xem như cùng một lúc nhu nhược, đáng sợ và điên rồ. Đây không phải là một chiến lược dễ dàng để thực hiện, nhưng họ đã thực hiện tốt. Đầu tiên, họ phải chắc chắn rằng họ đã được cảm nhận là luôn luôn trên bờ vực của sự sụp đổ nội bộ và do đó không phải là một mối đe dọa trực tiếp đến bất kỳ ai, ngoài bản thân họ. Họ đã đi ra khỏi con đường của họ để nhấn mạnh vấn đề kinh tế của họ, đặc biệt là nạn đói vào những năm 1990. Họ muốn không ai nghĩ rằng họ có ý định là một kẻ xâm lược, trừ khi bị khiêu khích nghiêm trọng.


Thứ hai, họ muốn xuất hiện cách thật là đáng sợ. Điều này mới trông qua đầu tiên sẽ dường như mâu thuẫn với ấn tượng của sự nhu nhược, nhưng họ xử lý nó tài giỏi bằng cách vĩnh viễn nhắc nhở thế giới rằng họ đã phát triển vũ khí hạt nhân và tên lửa tầm dài. Nhận thấy rằng người Mỹ và Nhật Bản đã có một nỗi ám ảnh phản ánh về vũ khí hạt nhân, Bình Nhưỡng đã liên tục làm cho thấy rằng họ có khả năng phát triển vũ khí hạt nhân nhưng chưa có được. Không có được có nghĩa là không ai phải làm điều gì đó về các loại vũ khí. Sắp gần đến để phát triển có nghĩa là rất nguy hiểm nếu kích động họ. Ngay cả Bắc Hàn thử nghiệm hạt nhân đã cố ý hoặc tình cờ, cho thấy không thành công, để lại các nước láng giềng của họ sự nghi ngờ về sức mạnh công nghệ của "Vương quốc Khổ hạnh."


Giai đoạn cuối cùng là sự xuất hiện điên rồ, hoặc đủ để điên khi bị dồn ép, họ sẽ chọn phương cách tự sát là tấn công với vũ khí hạt nhân, nếu họ đã có. Điều này là quan trọng bởi vì một diễn viên hợp lý sở hữu một hoặc một vài vũ khí sẽ không nghĩ đến tấn công các nước láng giềng, vì lẽ rằng Mỹ sẽ truy cập tấn công tiêu diệt chế độ Bắc Triều Tiên. Sự đe dọa sẽ không hiệu nghiệm nếu Bắc Triều Tiên được coi là hữu lý, nhưng nếu là phi lý, thì chiến lược răn đe của Bắc Triều Tiên có thể thực hành. Họ sẽ buộc tất cả mọi người thật là cực kỳ thận trọng trong việc đối phó với Bắc Triều Tiên, vì sợ rằng Bắc Triều Tiên làm một cái gì đó khá điên rồ. Sự tuyên truyền của Hàn Quốc và Mỹ đã làm cho hình ảnh không thể tiên đoán của Bắc Triều Tiên tăng thêm hơn so với những gì miền Bắc có thể có hy vọng.


Bắc Triều Tiên, từ đó, đã trải qua hơn hai thập niên nuôi dưỡng cho thế giới bên ngoài với hình ảnh của một quốc gia trên bờ vực của sự sụp đổ kinh tế nội bộ (ngay cả trong khi nội bộ nhấn mạnh sức mạnh của nó khi đối mặt với các mối đe dọa bên ngoài). Đồng thời, đất nước đã xuất hiện như là bên mức bờ trở thành một sức mạnh hạt nhân - nơi đang được cai trị bởi người có tiềm năng điên rồ. Kết quả là các nước lớn, đặc biệt là Hàn Quốc, Hoa Kỳ và Nhật Bản, đã đi ra khỏi con đường của họ để tránh khiêu khích miền Bắc. Ngoài ra, ba cường quốc đã chuẩn bị sẵn sàng để hối lộ Bắc Triều Tiên để ngăn chặn việc thực hiện phát triển hạt nhân và tên lửa. Nhiều lần, họ hối lộ miền Bắc với tiền hoặc thực phẩm để ngăn chặn xây dựng vũ khí, và cứ thế mỗi lần miền Bắc nhận tiền và rồi sau đó lại tiếp tục chương trình của họ, cách khá phô trương, gây ra thông báo tối đa và khôi phục lại hình ảnh của kẽ nhu yếu, điên rồ đáng sợ.


Miền Bắc đã chơi tốt trò chơi này để mưu hoạch cho chính họ vào một vị trí như ngồi bình đẳng với Hoa Kỳ, Nhật Bản, Nga, Trung Quốc và Hàn Quốc – và họ thường xuyên từ chối tham dự các cuộc đàm phán sáu bên. Khả năng mưu hoạch để đưa chính họ vào một vị trí bằng các quyền lực lớn này là sự thành tựu lớn nhất của Bắc Triều Tiên, và nó có ảnh hưởng rất lớn đến việc ổn định chế độ bằng cách tăng cường tính hợp pháp trong nội bộ và sức mạnh của nó ở bên ngoài. Phía bên dưới của sự việc này là một thực tế rằng không có ai háo hức muốn thấy Bắc Triều Tiên sụp đổ, đặc biệt là khi nó điên rồ và có thể đã có vũ khí hạt nhân. Bắc Triều Tiên tạo ra một chiến lược tuyệt vời cho việc bảo quản chế độ trong một khu vực rất thù địch hoặc ít ra xem như thù địch với người Bắc Hàn.


Điều quan trọng cho Bình Nhưỡng, Bắc Triều Tiên là lợi ích to lớn cho một siêu cường: Trung Quốc. Thậm chí nhiều hơn so với vai trò của Bắc Triều Tiên là một quốc gia đệm, trò hề của nó cho phép Trung Quốc nổi lên như là trung gian giữa một Bình Nhưỡng rất bí hiểm và một Hoa Kỳ đầy thất vọng. Khi nền kinh tế của Trung Quốc tăng trưởng, lợi ích chính trị và quân sự và tiếp cận mở rộng, dẫn đến nhiều căng thẳng với Hoa Kỳ. Tuy nhiên, Bắc Kinh nhận thấy rằng Bắc Triều Tiên là một nỗi ám ảnh đặc biệt của Hoa Kỳ bởi vì tiềm năng vũ khí hạt nhân của nó và sự nhạy cảm của người Mỹ về vũ khí hủy diệt hàng loạt. Bất cứ khi nào Bắc Triều Tiên làm điều gì đó thái quá, Hoa Kỳ sẽ chuyển sang Trung Quốc để bày tỏ vấn đề. Để có giải quyết, thì khi đó Washington sẽ không thích hợp để gây áp lực Trung Quốc bất cứ vấn đề khác, ít nhất là trong một khoảng thời gian. Do đó, Bắc Triều Tiên là một cơ chế tuyệt vời cho Trung Quốc để làm chệch hướng áp lực của Mỹ về các vấn đề khác.


Đối với tất cả các hành động khiêu khích thường xuyên của họ, Bắc Triều Tiên đã cẩn thận không bao giờ bước qua một đường vạch với vũ khí thông thường hoặc hạt nhân để ép buộc một phản ứng từ miền Nam hay Hoa Kỳ. Khả năng để hiệu chỉnh các hành động khiêu khích của họ đã được nổi bật, thậm chí là hành động leo thang của họ thông qua việc thử nghiệm hạt nhân đến hành động quân sự chống lại các tàu Hàn Quốc và hải đảo ở Biển Tây. Nổi bật là cách thức mà trong đó những hành động khiêu khích làm tăng tác dụng nâng tầm của Trung Quốc với Hoa Kỳ.


Khó khăn của việc gỡ thoát


Tại thời điểm này, Hoa Kỳ rút khỏi Hàn Quốc sẽ là việc khó khăn. Mối đe dọa hạt nhân từ Bắc Triều Tiên đang xếp đặt tình hình vào chỗ, ngay cả đối với các đội quân không liên quan gì đến mối đe dọa đó. Các binh lính có thể được rút đi, nhưng họ sẽ không bởi vì do quán tính của tình hình mà làm cho việc ở lại dễ dàng hơn là họ rút đi. Đối với người Hàn Quốc, họ đồng thời không thích sự hiện diện của người Mỹ và lại muốn họ ở đó, vì nó đảm bảo sự tham gia của quân đội Mỹ trong bất cứ cuộc khủng hoảng nào.


Trong khi sự hiện diện của quân Mỹ tại Hàn Quốc có thể không làm nên ý nghĩa nhiều nhất trong chiến lược quân sự toàn cầu của Mỹ, thì trớ trêu thay có vẻ như để phù hợp với, ít nhất là cho bây giờ, lợi ích của Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật Bản, và thậm chí có một vài ý nghĩa cho Bắc Triều Tiên . Hoa Kỳ, như là sức mạnh toàn cầu, do đó bị khóa vào một việc triển khai không phù hợp với các nhu cầu trong khu vực, đòi hỏi lời giải thích không ngừng và là nguồn gốc của những phức tạp chính trị thường xuyên. Những gì còn lại cho chúng ta chỉ là một chiến lược không nhất thiết phải dựa trên tình hình hiện nay, nhưng gắn liền với một di sản lịch sử, còn sót lại là bởi quán tính và được giữ lại tại chổ bằng "mối đe dọa" hạt nhân của Bắc Triều Tiên.




Nguồn:
Stratfor

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét